"Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại"

TIN TIÊU ĐIỂM

Danh Bạ Điện thoại


Danh bạ

Học viện Chính trị


Công tác tư tưởng, lý luận với việc đấu tranh làm thất bại âm mưu "Diễn biến hòa bình" trong tình hình mới

Thứ hai, 09/12/2013 - 03:00 chiều GMT

Đấu tranh tư tưởng, lý luận là một bộ phận của đấu tranh giai cấp, là cuộc đấu tranh quyết liệt và phức tạp. Trong tình hình hiện nay, đấu tranh tư tưởng, lý luận còn là một mặt trận hết sức nóng bỏng, chiếm vị trí hàng đầu của đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc; góp phần đánh bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Quá trình phát triển của lý luận Mác - Lênin đã luôn phải đấu tranh với những quan điểm sai trái, phản động, phản khoa học, cơ hội, xét lại dưới mọi màu sắc, cả “tả” khuynh và hữu khuynh. Cuộc đấu tranh đó vẫn đang tiếp tục diễn ra và sẽ còn diễn ra chừng nào còn có giai cấp, đấu tranh giai cấp và còn có nhà nước. Mỗi thời kỳ lại có những quy mô, trình độ và có những nội dung, sắc thái mới. Cuộc đấu tranh đó sẽ diễn ra như thế nào còn tùy thuộc vào những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, cả về chính trị, kinh tế, xã hội lẫn quân sự, khoa học và công nghệ… Các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội luôn tranh thủ những điều kiện có lợi để tác động vào lĩnh vực tư tưởng, lý luận hòng đánh bại những người cộng sản ngay từ gốc để chuyển hóa lập trường của họ. V.I.Lênin đã từng chỉ ra rằng, chỉ có hệ tư tưởng vô sản và hệ tư tưởng tư sản, không có hệ tư tưởng thứ ba. Vì thế, một khi lập trường vô sản đã bị lung lay, biến chất, thì thay vào đó sẽ là lập trường và quan điểm tư sản.

 

Thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đã triệt để khai thác những hạn chế, mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa để tác động vào lĩnh vực tư tưởng, lý luận của chúng ta. Cái đích của “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ở hai lĩnh vực trọng yếu là đường lốitổ chức cán bộ. Muốn tác động vào đường lối, đương nhiên phải đi từ cán bộ, bởi bản thân đường lối tùy thuộc một cách quyết định vào phẩm chất, trí tuệ và bản lĩnh của cán bộ. Cán bộ, đảng viên đều là những con người cụ thể, là những sản phẩm xã hội - lịch sử cụ thể. Chúng ta không đánh đồng tất cả mọi cán bộ, song ở họ vẫn có một điểm chung: đều là con người với những khát vọng chính trị, khát vọng xã hội, khát vọng đời thường chi phối bởi kiến thức, năng lực, bản lĩnh trong cuộc sống.

 

Nếu bản lĩnh chính trị không vững, kiến thức, năng lực không được nâng cao, lại thiếu rèn luyện về đạo đức, lối sống thì chủ nghĩa cá nhân sẽ phát triển, lấn át đạo đức cách mạng. Bởi thế, nhiều người đã không gục ngã trong chiến tranh, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cộng sản ngay cả lúc bị tù đày, tra khảo dã man, nhưng trong điều kiện hòa bình, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì lại thay đổi lập trường lúc nào đến chính họ cũng không biết (hay cố tình không biết). Họ vẫn tự khẳng định họ là người cộng sản, vẫn cho ý kiến của họ là đúng, là phù hợp (!) và lên án tập thể và xã hội đã không hiểu mình, không chịu “đổi mới” (!). Họ đâu biết hay cố tình không biết rằng, cái chất người cộng sản trong họ đã không còn nữa. Vì vậy, trong sự đa dạng của thành phần xuất thân, đa dạng về năng lực, trình độ, bản lĩnh… của cán bộ, đảng viên hiện nay, một mặt nếu tổ chức thiếu (hoặc không) chặt chẽ, tất yếu sẽ dẫn đến sự phát triển của những tư tưởng cơ hội đủ loại, dẫn đến sự phân liệt về tổ chức; mặt khác sẽ bị kẻ địch lợi dụng chống phá thông qua âm mưu, thủ đoạn của “diễn biến hòa bình”.

 

Cái nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” là ở âm mưu của các thế lực thù địch, nhưng nó lại được thực hiện một cách mạnh mẽ mà êm ái thông qua chính đối tượng bị tác động để từ diễn biến chuyển sang tự diễn biến. Bởi thế, nhiều chính đảng đã bị sụp đổ nhưng vẫn không lý giải được nguyên nhân tại sao có sự sụp đổ đó và trong đó có cái vòi bạch tuộc của “diễn biến hòa bình” hay không? Thậm chí họ quay lại đổ lỗi cho nhau mà không nhận ra rằng, đang có một thế lực ngầm hoan hỉ về thành công của chúng.

 

Sự nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” còn ở chỗ: nó tác động đến chính trị, xuyên qua tất cả các lĩnh vực khác, bằng nhiều kênh khác nhau, mà trực diện là ngay trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận với những tay bút chiến sừng sỏ có, bồi bút lá cải cũng có, ở tầng lý luận có, ở tầng tư tưởng - tâm lý cũng có. Cùng với điều đó là các tác động đủ loại với các quy mô, cường độ và cách tổ chức đa dạng của các lĩnh vực kinh tế, quân sự, ngoại giao, gián điệp, tâm lý, xã hội, văn hóa… mà tất cả đều nhằm vào vấn đề con người, khơi dậy những khát vọng đời thường của mỗi người từ lãnh đạo tới người dân. Chính cái đa dạng, cái mờ ảo ấy dễ làm người ta lẫn lộn, khó phân biệt được đâu là tích cực, đâu là tiêu cực ngay chính trong mỗi suy nghĩ, mỗi hành động của mình.

 

Chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch (thông qua nhiều kênh, nhiều lĩnh vực để thực hiện “tự diễn biến”) nhằm thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thủ tiêu chế độ xã hội chủ nghĩa và thủ tiêu cả những nước, những người trong ban lãnh đạo của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội ở những nước có khuynh hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

“Phi chính trị hóa” quân đội cũng là một cái đích và gắn liền một cách hữu cơ với “diễn biến hòa bình”. Một khi “diễn biến hòa bình” đã được thực hiện thì đương nhiên vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội không còn nữa. Bản chất của “Phi chính trị hóa” quân đội là làm cho quân đội vô sản trở thành một quân đội tư sản. Cái mà các thế lực thù địch rêu rao rằng, quân đội phải trung lập, phải đứng ngoài chính trị chỉ là cái “bánh vẽ” để lòe bịp. Quân đội bao giờ cũng là một tổ chức vũ trang, gắn liền với một tập đoàn người, một giai cấp, một nhà nước, một kiểu chế độ chính trị nhất định. Không có quân đội nào đứng ngoài chính trị và vô chính trị. Quân đội được sinh ra là để thực hiện mục tiêu chính trị của giai cấp đã tổ chức ra nó. Lĩnh vực mà quân đội hoạt động - lĩnh vực đấu tranh vũ trang - cũng xuất phát từ mục tiêu chính trị và phục vụ cho mục đích chính trị. Đến lượt nó, bản thân quân đội cũng là một lực lượng chính trị, cái khác là ở chỗ, đó là lực lượng chính trị được tổ chức, chỉ huy chặt chẽ, được vũ trang đầy đủ mà thôi. Do đó, nếu quân đội không chiến đấu vì mục tiêu chính trị này thì thay vào đó sẽ là một mục tiêu chính trị khác; không đặt dưới sự lãnh đạo của một chính đảng vô sản, tất yếu sẽ chịu sự lãnh đạo của đường lối chính trị tư sản. Như thế, bản chất của cái gọi là “phi chính trị hóa” quân đội không gì khác hơn là làm biến chất quân đội của chúng ta, nhằm làm cho một quân đội của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một quân đội tư sản, chống lại quyền lợi của nhân dân lao động, bảo vệ quyền lợi của các thế lực thù địch.

 

Sau thời kỳ chiến tranh lạnh, “diễn biến hòa bình” và “phi chính trị hóa” quân đội được các thế lực thù địch đẩy lên một mức độ cao hơn. Với so sánh lực lượng và tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự trên thế giới đang có lợi, với những gì đã làm được ở Đông Âu và Liên Xô, các thế lực thù địch tin rằng, chúng sẽ tiếp tục giành thắng lợi trong mặt trận không có tiếng súng này, ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam. Âm mưu của chúng là như vậy, nhưng chúng ta cũng không nên cho rằng, chúng chỉ đánh đổ chúng ta bằng phương pháp êm dịu đó. Nếu cần và thực tế đã chứng minh, chúng sẵn sàng kích động hoạt động bạo loạn vũ trang, kích động nội chiến để lấy cớ can thiệp về quân sự. Và trong trường hợp có điều kiện, chúng không loại trừ cả thủ đoạn trực tiếp tiến công quân sự một cách quyết liệt. Ngay cả trong trường hợp dùng biện pháp quân sự, chủ nghĩa đế quốc sau những thất bại của chủ nghĩa thực dân cũ, thực dân mới ở Việt Nam cũng nhận ra rằng, không thể duy trì một lực lượng quân sự nước ngoài với tư cách là một đội quân chiếm đóng. Như thế vừa mất miếng lại vừa mang tiếng; vừa tốn của, hao người, lại vừa tạo nên một làn sóng phản kháng xâm lược ở cả trong nước và quốc tế. Giải pháp đi kèm với chiến tranh vẫn phải là dựng lên chính quyền tay sai, hay ít nhất là chính quyền của những người có cùng quan điểm với chúng.

 

Một loạt các cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang gần đây trên thế giới đã cho thấy, “diễn biến hòa bình” luôn đi liền với bạo loạn lật đổ; chiến tranh xâm lược bao giờ cũng đi liền với “diễn biến hòa bình”.

 

Từ những vấn đề trên đây cho thấy rõ về âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch. Rõ ràng, đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là một mặt trận hàng đầu trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hiện nay. Ở nước ta, Đảng ta đã sớm phát hiện, nghiên cứu và có chủ trương, biện pháp đối phó với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Sự ổn định chính trị của Việt Nam đã cho thấy âm mưu đó của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam đã thất bại. Trong kết quả chung đó, công tác tư tưởng, lý luận đã góp phần rất quan trọng. Từ việc nghiên cứu, nhận diện về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” đến việc đề ra và thực hiện những chủ trương, giải pháp đối phó có hiệu quả, từ việc tạo lập cơ sở khoa học cho đường lối, chủ trương của Đảng đến việc giáo dục, tổ chức nhân dân, quân đội nâng cao cảnh giác cách mạng, chăm lo công cuộc xây dựng Đảng, chế độ, tự bảo vệ mình… công tác tư tưởng, lý luận đều có đóng góp rất thiết thực và hiệu quả.

 

Hiện nay, nhiệm vụ mới đặt ra cho cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận ngày càng cao hơn, cấp thiết, quyết liệt và phức tạp hơn, đòi hỏi công tác tư tưởng, lý luận cần có sự phát triển mạnh mẽ, toàn diện, hoạt động hiệu quả hơn.

 

Công tác nghiên cứu, phát triển lý luận cần được đẩy mạnh hơn nữa, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh tư tưởng, lý luận. Hiện nay, công tác lý luận chưa lý giải một cách thuyết phục những vấn đề rất cơ bản về định hướng xã hội chủ nghĩa và những vấn đề cụ thể trên từng lĩnh vực, từng cấp, từng ngành thì còn rất chung chung. Hơn nữa, biện pháp, cơ chế, chính sách cụ thể hóa định hướng đó còn ở tình trạng vừa thiếu, vừa không đồng bộ và chưa thật hiệu quả, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế và văn hóa. Tình trạng chưa rõ ràng ấy ở tầm lý luận đã tác động mạnh đến hiệu quả của công tác tư tưởng, đến sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, trong xã hội trước những vấn đề  nảy sinh từ thực tiễn. Cho dù thực tiễn luôn vận động, phát triển và đặt ra những vấn đề ngày càng mới, nhưng phải chăng sự vận động đó của thực tiễn vẫn phải tuân theo những vấn đề có tính quy luật của nó. Nhiệm vụ hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận là phải khái quát được những gì đã và đang diễn ra trên thực tế, từ đó vạch ra xu thế vận động, phát triển tất yếu của nó, dự báo những biểu hiện cơ bản của xu thế đó cùng những biện pháp để tận dụng lợi thế và khắc phục những mặt trái trong quá trình vận động, phát triển của thực tiễn. Một khi những vấn đề lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta chưa được phân tích, lý giải có cơ sở khoa học, có tính thuyết phục thì lại chính là kẽ hở cho các luận điệu xuyên tạc, nói xấu, kích động của kẻ thù. Ngay trong nội bộ, để đi đến một sự thống nhất cũng là một quá trình tìm tòi, đấu tranh và phát triển nhận thức lý luận. Quá trình đó nếu không được tổ chức chặt chẽ thì tự nó dễ dẫn tới khuynh hướng tự phát, tạo điều kiện cho kẻ thù lợi dụng.

 

Công tác lý luận chưa phát huy hết vai trò chủ động trong việc truyền bá lý luận chính trị của Đảng đến quảng đại quần chúng nhân dân, có những thời điểm chưa thật chủ động và sắc sảo trong đấu tranh với những luận điệu phản động, sai trái của các thế lực thù địch chống lại cách mạng nước ta. Những năm gần đây, Đảng ta đã có nhiều đổi mới trong việc tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, bước đầu thu được kết quả tốt, nâng cao tính thuyết phục và tạo được tác động tích cực trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém cả về nội dung, phương pháp, tình trạng hình thức chủ nghĩa còn khá phổ biến và hiệu quả chưa thật tốt. Có nhiều nguyên nhân cả trong tư duy, lãnh đạo, chỉ đạo lẫn trong tổ chức thực tiễn, song căn bản là trình độ lý luận, năng lực của một bộ phận cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ. Trong tất cả mọi công việc của Đảng, của Nhà nước, sau khi đã có đường lối, chủ trương đúng thì kết quả công việc hầu như tùy thuộc vào khâu cán bộ. Không thể có chất lượng cao của các công trình nghiên cứu về lý luận và hiệu quả cao trong đấu tranh lý luận, giáo dục lý luận nếu như những người trực tiếp liên quan đến hoạt động này không phải là những người thật sự tâm huyết và có trình độ, năng lực.

 

Những năm qua, công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội đã đạt được những thành tựu quan trọng. Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội đã đi trước một bước trong việc góp phần cung cấp luận cứ khoa học để Đảng, Nhà nước xây dựng các quan điểm, chủ trương, chính sách về quân sự, quốc phòng và vận dụng vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội  nhân dân trong điều kiện mới. Hầu như những diễn biến cơ bản của tình hình chính trị - quân sự - kinh tế - văn hóa - xã hội có liên quan đến quân sự, quốc phòng đều đã được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau. Trong đó, phải kể đến một loạt các công trình nghiên cứu và phát triển lý luận xây dựng các lực lượng vũ trang như: phát triển lý luận xây dựng quân đội trong thời bình; chức năng, nhiệm vụ quân đội trong tình hình mới; hoàn thành một bước quan trọng lý luận xây dựng quân đội về chính trị, cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, dự báo tình hình và đề xuất giải pháp đối phó với các tình huống chiến lược trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, quốc phòng - an ninh tuy là một trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch, nhưng đây lại là lĩnh vực mà chúng ta đạt được nhiều thành tựu, góp phần to lớn vào sự ổn định chính trị, xã hội cho đất nước trong quá trình phát triển. Sự kiên định, rõ ràng và đúng đắn về quan điểm chính trị, về lập trường giai cấp trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cùng với công tác tổ chức chặt chẽ ở lĩnh vực này đã chặn đứng mọi sự xâm nhập, chống phá của kẻ thù. Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội đã nhạy bén và đi đầu trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, của chế độ, quân đội và kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, nhận thức mơ hồ, sai trái, những luận điệu phản động của các thế lực thù địch, trong đó, có thể nêu điển hình là trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”.

 

Tuy nhiên, công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội những năm qua cũng còn có những hạn chế. Đó là sự chủ quan, giản đơn của một số cấp ủy, chất lượng và hiệu quả ứng dụng củ các công trình nghiên cứu còn khiêm tốn, tính chủ động và sắc sảo, tính thuyết phục trong đấu tranh tư tưởng, lý luận chưa thật cao. Trong một số trường hợp còn thiếu kịp thời, thiếu kiên quyết; tính chiến đấu còn chung chung. Việc giáo dục lý luận còn rập khuôn máy móc, có biểu hiện chạy theo thành tích, chưa thực sự linh hoạt, sáng tạo.

 

Những hạn chế trên, một phần là do chất lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận, công tác tổ chức hoạt động này. Quân đội ta có một truyền thống quý báu là hầu hết các tướng lĩnh, các cán bộ cao cấp đều là những người văn võ song toàn, giỏi về chỉ huy tác chiến và là những con người có trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, có công lao trong nghiên cứu, bổ sung phát triển lý luận quân sự cách mạng Việt Nam. Cùng với đội ngũ này, quân đội còn có một đội ngũ cán bộ khoa học hùng hậu trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Vấn đề là ở chỗ cần kế thừa và phát triển truyền thống quý báu trên đây và có sự đánh giá khách quan, trung thực về chất lượng, cơ cấu và tổ chức sao cho đội ngũ cán bộ khoa học hiện có phát huy được tốt vai trò của mình.

 

Để phát huy được vai trò của đội ngũ cán bộ nòng cốt, đi đầu trong đấu tranh tư tưởng, lý luận, thiết nghĩ cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý, cung cấp thông tin cho họ một cách kịp thời, tạo điều kiện để đội ngũ này sớm được tiếp cận thông tin. Muốn vậy, phải tổ chức và định hướng hoạt động thông tin chặt chẽ, kịp thời, chính xác, chú trọng phân cấp và quản lý thông tin, trước hết là những thông tin đối lập. Đi liền với nó là kiện toàn tổ chức đội ngũ và tổ chức hoạt động của đội ngũ này ở các cấp. Các cơ quan thông tin báo chí của quân đội rất có thế mạnh và tiềm năng trong tổ chức các chiến dịch đấu tranh tư tưởng, lý luận, vì vậy, cần phát huy mạnh mẽ hơn thế mạnh này trong tình hình mới. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh hơn việc đưa nội dung đấu tranh tư tưởng, lý luận về cơ sở, tăng cường hoạt động tuyên truyền miệng, nói chuyện chuyên đề nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội và đấu tranh chống lại nó ngay từ cơ sở. Những hoạt động này vừa qua chúng ta làm chưa được tốt, dẫn đến thực trạng là không ít cán bộ, chiến sĩ hiểu biết chưa đầy đủ, chưa sâu sắc về “diễn biến hòa bình”. Thực tế đã chứng minh, không thể làm tốt chức năng là một đội quân công tác trong tuyên truyền, vận động nghiên cứu đấu tranh chống lại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của kẻ thù nếu không có sự hiểu biết đầy đủ, chính xác ở chính những con người đang đấu tranh.

 

Trong tình hình mới, cần phải tăng cường đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” và “phi chính trị hóa” quân đội. Theo đó, phải tiến hành đồng bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả của nhiều nội dung, hình thức và biện pháp khác nhau.

 

Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu để làm rõ quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định tính đúng đắn của hệ tư tưởng đó trong lịch sử, hiện tại và tương lai.

 

Trong quá trình tiến công vào các nước xã hội chủ nghĩa, các thế lực phản động bao giờ cũng nhằm vào việc xóa nhòa ranh giới tư tưởng ngay từ hệ tư tưởng, lý luận. Chúng công kích, xuyên tạc lý luận chủ ngĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kể cả bằng thủ đoạn đen tối là đem đối lập những tư tưởng của Hồ Chí Minh với các nhà mácxít tiền bối. Gần đây, trước sự xâm nhập và phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, trước nhu cầu có tính khách quan của đời sống kinh tế - văn hóa quốc tế là hội nhập, giao lưu, hợp tác quốc tế, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã cổ súy cho cái gọi là không có ranh giới tư tưởng (!); rằng, cần “phi chính trị hóa” nhà nước và quân đội (!). Đấu tranh chống lại những luận điệu này là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của toàn thể đội ngũ những người làm công tác tư tưởng, lý luận của đất nước. Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội phải tham gia mạnh mẽ vào cuộc đấu tranh đó.

 

Ngày nay, trước âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, xuất phát từ mục tiêu chiến lược của cách mạng nước ta, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã và đang đặt lên hàng đầu nhiệm vụ bảo vệ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa phải được tiến hành từ gốc: bảo vệ chính ngay hệ tư tưởng của chúng ta. Muốn vậy, cần tiếp tục nghiên cứu để nắm, hiểu rõ và vận dụng linh hoạt, sáng tạo hệ tư tưởng mácxít vào điều kiện mới, điều mà trong suốt quá trình xây dựng, trưởng thành của quân đội, chúng ta đã làm tốt. Trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, việc làm đó lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết vì hệ tư tưởng chính là cái mà chúng ta phải bảo vệ và đó cũng là thế mạnh, là vũ khí chiến đấu của chúng ta, nếu không thì tất yếu sẽ không thành công trong chống “diễn biến hòa bình”. Đối với những người làm công tác tư tưởng, lý luận, yêu cầu trên đây lại càng đặt ra một cách cấp thiết, bởi họ đang và sẽ phải đi tiên phong trong cuộc đấu tranh đó. Nói như vậy không có nghĩa là các lực lượng khác có thể đứng ngoài cuộc. Hơn lúc nào hết , việc giáo dục lý luận chính trị phải được chú trọng ở tất cả các cấp, các đơn vị, tạo nên sức đề kháng về tư tưởng, lý luận cho cán bộ, chiến sĩ trong đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc của địch về những vấn đề lý luận. Cần khắc phục những hạn chế, yếu kém cả về nghiên cứu, phát triển lý luận và giáo dục lý luận.

 

Chủ động nắm địch trên phương diện tư tưởng, lý luận. Vừa qua, mọi luận điệu của các thế lực phản động đều được phát hiện, đấu tranh khá hiệu quả. Tuy nhiên, phía địch nghiên cứu về ta rất kỹ lưỡng, nắm thông tin về ta khá kịp thời và nhờ đó chúng hiểu về ta khá rõ và có lúc, có hoạt động địch đã chủ động tiến công ta. Về phía ta, nắm âm mưu, ý đồ chung của địch thì được, nhưng những diễn biến cụ thể, hiểu đối phương từ gốc rễ còn rất hạn chế. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, nhiều bài viết cả về lý luận còn thiếu tính sắc bén cũng có lý do này. Đã đến lúc cần phải tổ chức lại công tác nắm địch trên phương diện tư tưởng, lý luận, làm tốt công tác khai thác và quản lý thông tin, đồng thời có cơ chế, có quy định cụ thể về cung cấp thông tin cho các cán bộ và tổ chức làm nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận.

 

Về tổ chức lực lượng, cùng với việc phát huy vai trò của các cơ quan thông tin đại chúng, với tư cách là người tổ chức tập thể, tuyên truyền tập thể, quân đội cần có một cuộc tổng duyệt lại lực lượng tham gia đấu tranh tư tưởng, lý luận. Các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy, các cán bộ nghiên cứu lý luận, cán bộ giảng dạy ở các viện nghiên cứu, các nhà trường, cơ quan, đơn vị cần xác định đấu tranh tư tưởng, lý luận chống “diễn biến hòa bình” là một nhiệm vụ chính trị vừa cơ bản, lâu dài, lại vừa trực tiếp, cấp thiết, thường xuyên của mình. Điều này thiết nghĩ không phải là cái gì đó quá mới mẻ. Đó là công việc có tính truyền thống của quân đội ta, một vấn đề mang tính nguyên lý của công tác tư tưởng, lý luận. Ngay từ sơ khai của cách mạng vô sản, tất cả các tổ chưc cộng sản, các chính đảng cộng sản đều phải đương đầu và đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng đối lập. Chính sự ra đời của các Đảng Cộng sản chân chính cũng là kết quả của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, là sự thắng lợi của lý luận Mác - Lênin. Ngày nay, chỉ Đảng nào giữ vững được hệ tư tưởng, lý luận Mác - Lênin thì Đảng đó mới còn tồn tại và phát triển. Do vậy, cần phải đẩy mạnh nghiên cứu khoa học để bảo vệ các quan điểm lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có cơ sở khoa học và có tính thuyết phục.

 

Như vậy, nhiệm vụ đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trong công tác tư tưởng, lý luận phải được tăng cường với những yêu cầu mới rất cao và gay gắt hơn. Đồng thời, cần đấu tranh kiên quyết với những nhận thức cho rằng, hiện nay đất nước đang tập trung cho phát triển kinh tế, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tăng cường đoàn kết trong nước và trên thế giới, không nên làm căng thẳng vấn đề đấu tranh tư tưởng, lý luận, vấn đề ý thức hệ (!). Cần nhắc lại rằng, chính nhờ có thắng lợi của cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận mà Việt Nam mới tồn tại với tư cách là một nước xã hội chủ nghĩa, và quân đội ta mới tồn tại là một quân đội của dân, do dân và vì dân như hiện nay. Chính thắng lợi của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mới là điều kiện đảm bảo có tính quyết định để đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới. Cũng nhờ có đấu tranh tư tưởng, lý luận mạnh mẽ mà khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế được tăng cường, làm cho nhận thức của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ ngày càng nâng lên, làm cho thế giới tiến bộ hiểu và ủng hộ Việt Nam hơn.

 

Hiện nay, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là hợp tác và đấu tranh vì một thế giới công bằng, tôn trọng độc lập chủ quyền của các quốc gia dân tộc, trong đó có quyền tự lựa chọn cho mình một con đường phát triển. Chính vì chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch muốn can thiệp, lật đổ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa của chúng ta - một chế độ đã được chính nhân dân ta lựa chọn, đã buộc chúng ta phải tự bảo vệ, phải đấu tranh để tồn tại và phát triển. Chúng ta và loài người tiến bộ cần lên án mạnh mẽ, đấu tranh kiên quyết với những kẻ đã và đang rắp tâm chà đạp lên quyền độc lập và tự do của chúng ta.

 

Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội của địch, công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội cần thường xuyên cảnh giác, chủ động phòng chống nguy cơ tự diễn biến ở tất cả các cấp, các ngành, trong mọi lực lượng. Đồng thời, tập trung triển khai sâu rộng nhiệm vụ xây dựng dạo đức, lối sống của người quân nhân cách mạng, thực hiện có chiều sâu, thiết thực và hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắn với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Chủ động, tích cực và kiên quyết đấu tranh mạnh mẽ hơn, kiên quyết hơn với sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và những hiện tượng tiêu cực trong xã hội và trong quân đội. Những hiện tượng tiêu cực ấy, cả trong suy nghĩ và trong hành động đều gây nên những tác hại tức thời, to lớn tới sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, tới sức mạnh của quân đội, làm tổn hại uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước ta. Về phương diện bảo vệ Tổ quốc, đó cũng là một loại giặc - giặc bên trong, giặc nội xâm theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Loại giặc này luôn cấu kết với giặc ngoại xâm để chống phá ta, mà bất kỳ một kẻ thù xâm lược nào cũng đều muốn tạo dựng, tìm kiếm cho mình loại đồng minh đó, dù chỉ là đồng minh không tự giác. Chúng ta không đánh đồng tất cả các loại tiêu cực, các hành vi trục lợi cá nhân, cho rằng tất cả đều xuất phát từ động cơ chính trị. Nhưng cần phải chỉ ra hệ quả chính trị mà những tiêu cực, hành vi đó gây ra.

 

Bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được trong quá trình phát triển của đất nước theo con đường đổi mới, vẫn còn những yếu kém, khuyết điểm, tiêu cực. Một trong những cái đó là nạn tham nhũng. Tham nhũng đã trở thành quốc nạn, thành một nguy cơ trực tiếp đe dọa đối với sự bền vững của Đảng, của chế độ. Nhận thức rõ nguy cơ của nạn tham nhũng, Đảng và Nhà nước đề ra chủ trương, giải pháp và triển khai thực hiện khá quyết liệt ở tất cả các cấp, các tổ chức và đoàn thể, trong mọi tầng lớp nhân dân. Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng hiệu quả của cuộc đấu tranh chống tham nhũng chưa thật cao. Hiện trạng tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy Đảng, Nhà nước vẫn đang là vấn đề nhức nhối, đáng báo động.

 

Để phát huy tốt hơn nữa vai trò của công tác tư tưởng, lý luận đối với cuộc đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân chống tham nhũng, công tác tư tưởng, lý luận cần tiếp tục làm tốt hơn nữa việc tổng kết thực tiễn đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Một chính đảng vô sản có bề dày hơn 60 năm cầm quyền, trong chiến tranh và trong hòa bình xây dựng đều thu được những thành tựu to lớn, đó là một kho tàng đồ sộ cả về lý luận và thực tiễn. Tổng kết, rút ra những gì là kinh nghiệm bổ ích từ những thành công và cả những gì chưa thành công trong giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, giữa Đảng với chính quyền và giữa chính quyền với nhân dân đang là những đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn. Trong quân đội, đó là mối quan hệ giữa Đảng với quân đội, cán bộ với chiến sĩ, quân đội với nhân dân. Từ trước đến nay, đây là những vấn đề thuộc về bản chất của Đảng, của quân đội ta và có ảnh hưởng sống còn đến sinh mệnh chính trị của Đảng, Nhà nước và quân đội. Những vấn đề này đã được nghiên cứu nhiều, nhưng dưới góc độ chống tham nhũng, tiêu cực thì còn cần được nghiên cứu sâu hơn để kiến nghị với Đảng, Nhà nước, quân đội những giải pháp đấu tranh nhằm ngăn chặn kịp thời, đẩy lùi và khắc phục một cách triệt để, kiên quyết. Những vấn đề đó phải trở thành những nội dung để giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong quân đội một cách thuyết phục và hiệu quả hơn.

 

Hiện nay, cần phải chỉ rõ trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp trong cuộc đấu tranh này. Trong quản lý cán bộ, đảng viên, cần coi trọng hơn nữa công tác giáo dục. Trên thực tế, người ta ngại việc gắn tiêu cực, tệ nạn với vấn đề chính trị. Đành rằng cần tỉnh táo để phân biệt rõ những vấn đề chính trị với những gì được coi là đời thường. Nhưng cũng cần làm cho mọi cán bộ thấy rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa những gì là tiêu cực, dù là nhỏ nhặt nhưng tích tụ lại là những vấn đề lớn, tạo nên những mảnh đất màu mỡ cho hạt giống độc “diễn biến hòa bình”, bạo loạn nảy nở.

 

Tăng cường đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, đòi hỏi quân đội phải phê phán mạnh mẽ tư tưởng lạm dụng quyền lực, kéo bè, kéo cánh, địa phương chủ nghĩa - một biến tướng của chủ nghĩa cá nhân. Một khi để những tư tưởng này hiện diện, tất yếu sẽ làm hạn chế, thậm chí triệt tiêu dân chủ, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ. Đó là những mục tiêu mà kẻ thù đang rắp tâm và gắng sức đạt tới. Đối với một quân đội cách mạng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, đường lối chính trị, quân sự của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ là những vấn đề đặc biệt hệ trọng trong xây dựng quân đội về chính trị. Đó cũng là những vấn đề luôn nằm trong tầm ngắm của “phi chính trị hóa” quân đội của kẻ thù.

 

Mục đích của công tác giáo dục lý luận, là làm cho cán bộ, chiến sĩ không chỉ hiểu sâu, kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước mà còn phải hiểu sâu sắc hơn về bản chất của địch nói chung, về âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” và “phi chính trị hóa” quân đội nói riêng. Cần gắn chặt đấu tranh tư tưởng, lý luận vào toàn bộ quá trình rèn luyện, giáo dục lý luận chính trị, tăng cường tính phê phán trong mỗi nội dung, liên hệ sát thực với cuộc đấu tranh chống tư tưởng thờ ơ chính trị, mơ hồ về kẻ thù ngay trong từng đơn vị. Điều này không chỉ đặt ra ở các đơn vị huấn luyện chiến sĩ, mà trước hết phải từ các cơ quan các cấp, các học viện, nhà trường - nơi đào tạo ra chính đội ngũ cán bộ, cái “gốc” của cách mạng như Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói, là những người chịu trách nhiệm giáo dục, huấn luyện bộ đội sau này./.

Tác giả: Trung tướng, PGS, TS NGND Lê Minh Vụ
Nguồn: Phòng chống "diễn biến hòa bình" ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Học viện Chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, 2009