"Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại"

TIN TIÊU ĐIỂM

Danh Bạ Điện thoại


Danh bạ

Học viện Chính trị


Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước

Thứ hai, 13/01/2014 - 03:31 chiều GMT

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011” viết: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”.

Luận điểm cơ bản này của Đảng là luận điểm "gốc" khẳng định những vấn đề chủ yếu nhất, cốt lõi nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa: bản chất và vai trò của nền dân chủ ấy; trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thời đại và thực tiễn Việt Nam.

 

Quan điểm của Đảng ta về dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện xuyên suốt trong tất cả các nội dung trong Văn kiện Đại hội XI; là hệ thống quan điểm hoàn chỉnh và toàn diện về những vấn đề cơ bản của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đảng ta không những chỉ rõ bản chất tốt đẹp, tính chất ưu việt, mà còn khẳng định tầm quan trọng của dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước; chỉ ra những nguyên tắc, yêu cầu, biện pháp cơ bản xây dựng, những lực cản chủ yếu của việc xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới và giải pháp khắc phục.

 

1.Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ khác hẳn về bản chất và đối lập về nguyên tắc với dân chủ tư sản. Điều đó thể hiện trên những vấn đề chính yếu sau: thứ nhất, dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ xuất hiện khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giành được chính quyền và ngày càng phát huy trong quá trình xây dựng xã hội mới; thứ hai, dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo; thứ ba, dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đa số, của người lao động, vì đa số và người lao động, không phải của thiểu số bóc lột, đặc quyền, đặc lợi; thứ tư, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ, mà ở đó, nhân dân lao động làm chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm; thứ năm, dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện bằng hệ thống tổ chức thể hiện quyền lực chính trị - xã hội của nhân dân, tập trung và thông qua nhà nước; thứ sáu, không ngừng mở rộng dân chủ gắn với tăng cường kỷ cương, pháp luật là quy luật cơ bản của sự phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đó là bản chất tốt đẹp của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đó là chế độ dân chủ “gấp triệu lần” hơn bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử như V.I.Lênin từng khẳng định.  

 

Nền dân chủ tư sản, dù có được tô vẽ như thế nào chăng nữa, thì nó vẫn là nền dân chủ của thiểu số, của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với xã hội và lao động. Trong những thập kỷ qua, nếu như chủ nghĩa tư bản có sự tiến bộ nào đó về mặt xã hội, thì đó cũng là kết quả của quá trình đấu tranh bền bỉ, liên tục của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước tư bản và sự tác động, ảnh hưởng bởi những giá trị nhân đạo, nhân văn, dân chủ, những giá trị vì con người của chủ nghĩa xã hội hiện thực thế giới.

 

2.Xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất thiết phải xây dựng và không ngừng phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu của sự phát triển đất nước thể hiện ở chỗ: thứ nhất, nền dân chủ ấy phải được xác lập và không ngừng hoàn thiện cùng với quá trình phát triển đất nước; thứ hai, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phải xuất phát từ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân; thứ ba, nhân dân lao động làm chủ thực sự trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là thước đo và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ xã hội chủ nghĩa không những là mục tiêu, mà còn là động lực của sự phát triển đất nước. Điều đó thể hiện ở chỗ: thứ nhất, nhân dân lao động được làm chủ, phát huy cao độ tính tích cực, tự giác của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; thứ hai, sức lao động được giải phóng, mọi tiềm năng của đất nước được phát huy, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn cho sự phát triển đất nước.

 

 Vai trò mục tiêu và động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển đất nước quan hệ chặt chẽ và thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau, cùng vận động trong quá trình xây dựng xã hội mới. Việc phân định đâu là vấn đề thuộc về mục tiêu, đâu là vấn đề thuộc về động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa là chỉ có tính chất tương đối, bởi sự hòa quyện, đan xen lẫn nhau giữa chúng. Quá trình xây dựng, hoàn thiện mục tiêu xây dựng dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng chính là quá trình phát huy vai trò động lực của chế độ dân chủ này trong thực tiễn, thúc đẩy đất nước phát triển. Đồng thời, quá trình phát huy vai trò động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng chính là quá trình xây dựng, hoàn thiện chế độ dân chủ này.

 

Vấn đề đặt ra ở đây là, cả hai quá trình, cũng như mối quan hệ giữa chúng, đều cần phải được nhận thức đúng và giải quyết tốt trong thực tiễn, phải được triển khai bằng những chủ trương, biện pháp cụ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Về vấn đề này, Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”[1]; “Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp và quyền làm chủ thông qua các cơ quan đại diện của mình. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội”[2].

 

3.Thực tiễn cho thấy, bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của nền dân chủ nước ta ngày càng thể hiện sinh động trong cuộc sống hàng ngày của quần chúng nhân dân. Kể từ khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhân dân lao động Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đứng lên làm chủ, tự mình tổ chức, cai quản và xây dựng xã hội mới. Đó là thành tựu vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Chế độ dân chủ ở nước ta, xét về bản chất, là một thể chế chính trị mà trong đó quyền lực chính trị - xã hội thuộc về nhân dân; “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”[3]; là chế độ bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của nhân dân trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần; phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các văn bản Hiến pháp, pháp luật, mà ngày càng được thể hiện sinh động trong cuộc sống hàng ngày.

 

Bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa đòi hỏi“Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân”[4]. Trong xã hội ta, mọi công dân Việt Nam đều có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp, hoặc thông qua người đại diện do mình lựa chọn. Trong các cuộc bầu cử Quốc hội và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, tỷ lệ cử tri đi bầu rất cao. Tỷ lệ đại biểu là nữ, người dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo trong Quốc hội ngày càng cao, tỷ lệ nữ là đại biểu Quốc hội đứng thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đứng thứ 9/135 nước trên thế giới. Việc truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn của Quốc hội; việc thực hiện đối thoại trực tuyến của Chủ tịch nước, của Thủ tướng Chính phủ… với nhân dân; những cuộc tiếp xúc của các đại biểu với cử tri chuẩn bị cho các kỳ bầu cử Quốc hội đã tạo điều kiện tốt hơn cho người dân thực hiện quyền làm chủ, thực thi quyền kiểm tra, giám sát các hoạt động của Nhà nước và đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình. Điều đó thể hiện sâu sắc bản chất tốt đẹp, tính ưu việt của chế độ dân chủ ở nước ta; thể hiện rõ mục tiêu, động lực của dân chủ xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển đất nước.

 

4. Hiện nay, “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng”[5]; “Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội”[6]. Tình trạng này làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến bản chất tốt đẹp của chế độ dân chủ nước ta, làm suy giảm động lực phát triển của đất nước, “sẽ dẫn đến tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”[7]. Chừng nào quan liêu, tham nhũng và suy thoái nêu trên còn diễn ra trầm trọng, thì chừng đó chưa thể nói chúng ta đã xây dựng và phát huy tốt dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong đời sống hiện thực.

 

Yêu cầu xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh lịch sử mới đã bức thiết đòi hỏi, Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành phải kiên quyết hơn nữa và nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, khắc phục tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng. Không đẩy lùi, khắc phục có hiệu quả tình trạng này, thì chúng ta khó có thể nói đến bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ dân chủ nước ta; khó có thể phát huy cao nhất quyền lực chính trị - xã hội của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu thực hiện xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

5.Thời gian gần đây, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, phủ nhận những thành tựu của cách mạng, lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “tự do báo chí”, những tiêu cực trong xã hội để chống phá, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ. Chúng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, ngợi ca dân chủ tư sản, kích thích chủ nghĩa tự do, thực dụng. Những quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, đòi “mở rộng dân chủ” hơn nữa, cùng với những luận điệu bóp méo sự thật “Việt Nam vi phạm dân chủ”, “mất dân chủ”, vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam là “trở lực” chính cho việc thực hiện dân chủ… được các thế lực thù địch bên trong và bên ngoài kết hợp chặt chẽ với nhau liên tiếp tung ra trong suốt  hai mươi lăm năm đổi mới, lại rộ lên hiện nay với những sắc thái biểu hiện mới.

 

Mưu đồ thực sự của chúng là nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng ta đối với xã hội, xoá bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, “lái” nền dân chủ nước ta sang dân chủ khác, dân chủ phi xã hội chủ nghĩa. Tính nguy hiểm của thủ đoạn này còn biểu hiện ở chỗ, nó dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn trong nhận thức về giá trị dân chủ, dễ gây nên sự dao động về tư tưởng trong một bộ phận cán bộ và nhân dân.

 

Cần nhấn mạnh rằng, thực thi dân chủ sai nguyên tắc, vô nguyên tắc đều là trái với lý tưởng của cách mạng, với bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa, có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Xa rời những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội, thì việc dân chủ hoá sẽ trượt sang quỹ đạo khác, trượt sang dân chủ phi xã hội chủ nghĩa và đồng nghĩa với việc thủ tiêu chủ nghĩa xã hội. Cần nhớ lại một bài học đau sót và thấm thía về sự vi phạm dân chủ và thực thi dân chủ sai nguyên tắc ở Liên xô trong thời gian cải tổ. Những đơn thuốc “công khai hoá”, “dân chủ hoá”, “đa nguyên chính trị” đưa ra nhằm cải tổ chủ nghĩa xã hội lại tạo “thời cơ”, điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch ráo riết hơn, quyết liệt hơn trong mưu đồ chống phá và dẫn đến thủ tiêu chế độ xô viết. Luận điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” mà các thế lực tung ra như là một “tiền đề” và “yêu cầu” của dân chủ là luận điểm chỉ có tính chất mị dân, thực chất là nhằm tước bỏ tính chất xã hội chủ nghĩa của nền dân chủ ở nước ta.

 

Những ai kêu gọi “hãy mở rộng dân chủ” hơn nữa, cần phải thấy rằng, dân chủ bao giờ cũng gắn liền với chuyên chính, với pháp luật và kỷ luật. Bất cứ một nền dân chủ nào cũng vậy, dù là dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ không có nghĩa là dân chủ vô nguyên tắc, càng không thể là vô chính phủ, đúng như Đảng ta khẳng định: “Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”[8]. Lợi dụng dân chủ, gây mất ổn định chính trị - xã hội, chống lại Tổ quốc và dân tộc là hành động không thể chấp nhận được, là trái với dân chủ.

 

Quan điểm của Đảng ta về dân chủ xã hội chủ nghĩa là quan điểm khoa học và cách mạng. Dù còn có những hạn chế nhất định trên con đường phát triển và hoàn thiện, nhưng bản chất chế độ dân chủ ở nước ta là tốt đẹp và ưu việt. Bản chất tốt đẹp và tính chất ưu việt đó không phải tự nhiên mà có, mà đó là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ, giữ gìn, nâng cao và phát huy trong sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 85.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 48.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 85.

[4]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 65.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 29.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 171.

[7]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 65.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 85.

Tác giả: Đại tá, PGS, TS Nguyễn Mạnh Hưởng
Nguồn: Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng